Thực trạng pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích để phòng, chống tham nhũng và một số giải pháp, kiến nghị

Thứ hai - 21/11/2022 00:29
1. Thực trạng pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích để phòng, chống tham nhũng
  Trong 10 năm qua, công tác thể chế hóa chính sách, pháp luật về PCTN đã có một bước tiến mạnh mẽ, cả về số lượng văn bản lẫn tính đồng bộ, toàn diện về thể chế PCTN cùng với các cơ chế bảo đảm thực hiện PCTN cụ thể, trong đó, kiểm soát xung đột lợi ích (XĐLI) luôn được coi là một bộ phận cấu thành đặc biệt quan trọng trong cơ chế phòng ngừa nói riêng, pháp luật về PCTN nói chung. Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã thông qua, ban hành, sửa đổi, bổ sung 165 luật, 10 pháp lệnh và 130 nghị quyết về quản lý kinh tế - xã hội và PCTN, tiêu cực, trong đó có nhiều đạo luật quan trọng về PCTN, tiêu cực hoặc liên quan đến PCTN, tiêu cực, nhất là Luật PCTN năm 2018; Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Luật Quản lý, sử dụng tài sản công; Luật Tố cáo năm 2018; Luật Giám định tư pháp năm 2020; Luật Kiểm toán năm 2019,... Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 1.478 nghị định, 545 quyết định và nhiều nghị quyết về quản lý kinh tế - xã hội, PCTN, TC. Các bộ, ngành đã ban hành gần 1.000 văn bản cụ thể hóa...(1).
 
    Qua thực tiễn hơn 10 năm ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật về kiểm soát XĐLI để PCTN, bước đầu có thể đánh giá chung là: 
 
    Thứ nhất, pháp luật về kiểm soát XĐLI đã thể chế hóa được quyết tâm chính trị của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với công tác đấu tranh PCTN, góp phần xây dựng Nhà nước liêm chính nói chung, xây dựng nền quản trị tốt, tạo được sự tin tưởng, niềm tin của nhân dân, từng bước ngăn chặn, xử lý kịp thời các XĐLI trong hoạt động công vụ, góp phần quan trọng trong công tác PCTN.
 
    Thứ hai, pháp luật về kiểm soát XĐLI đã xác lập được hệ thống các quy phạm tương đối thống nhất và đồng bộ trong kiểm soát XĐLI (đơn cử như các quy định về những hạn chế áp dụng với cán bộ, công chức, viên chức liên quan đến hoạt động kinh doanh, việc làm thêm, việc làm sau khi nghỉ hưu, tặng quà, nhận quà... Những quy định này còn được nêu trong nhiều văn bản pháp luật khác như Luật cán bộ, công chức, Luật Viên chức, Luật Đấu thầu, Luật Kiểm toán Nhà nước,...).
 
    Thứ ba, pháp luật về kiểm soát XĐLI đã ghi nhận và bảo đảm nguyên tắc bình đẳng về lợi ích của Nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức và của người dân, với mục đích: Ngăn ngừa tham nhũng, bảo đảm tính công khai, minh bạch, thiết lập nền công vụ liêm chính nhưng đồng thời bảo đảm lợi ích của cán bộ, công chức, viên chức theo hướng bảo đảm sự hài hòa, hợp lý giữa các lợi ích công và lợi ích tư theo nguyên tắc khi thi hành công vụ phải liêm chính, luôn đặt lợi ích của Nhà nước lên trên lợi ích cá nhân, khi có hành vi vi phạm XĐLI phải chịu trách nhiệm tùy theo tính chất và mức độ của hành vi vi phạm. Pháp luật đồng thời quy định các quyền tự do cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức và người thân của họ được bảo vệ khỏi mọi hành động xâm hại tùy tiện, thông qua các quy trình, thủ tục chặt chẽ để ngăn ngừa những hành động trái pháp luật.
 
    Thứ tư, pháp luật về kiểm soát XĐLI của Việt Nam về cơ bản đã xác lập được một khuôn khổ pháp luật về kiểm soát XĐLI phù hợp với thông lệ quốc tế nói chung, mô hình quản lý XĐLI của OECD nói riêng(2).
 
    Thứ năm, pháp luật về kiểm soát XĐLI thể hiện sự kết hợp giữa những nguyên tắc chung về hành vi ứng xử của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực thi công vụ, đồng thời bao gồm những quy định nêu ra những tình huống cụ thể được coi là tình huống XĐLI. Cách tiếp cận kết hợp này được cho là toàn diện, cho phép phát huy những ưu điểm và hạn chế những nhược điểm của mỗi cách tiếp cận riêng rẽ nêu trên.
 
    Thứ sáu, pháp luật về kiểm soát XĐLI đã bước đầu thể hiện sự đồng bộ hóa các quy định có liên quan nhằm bảo đảm tính toàn diện, triệt để, đồng bộ của các chế định pháp luật để bảo đảm phát huy hiệu quả điều chỉnh của pháp luật. Có thể kể đến tính đồng bộ giữa các quy định về kiểm soát XĐLI với các quy định về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn; quy định về hạn chế lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ; quy định về giáo dục, tuyên truyền nâng cao nhận thức về chính sách PCTN nói chung và phòng ngừa XĐLI cho cán bộ, công chức, viên chức nói riêng; quy định về cơ chế huy động và bảo đảm sự tham gia tích cực của khu vực tư nhân, truyền thông và các tổ chức xã hội trong việc giám sát tuân thủ các quy định về XĐLI để PCTN.
 
    Bên cạnh các kết quả chủ yếu nêu trên, từ thực trạng hệ thống các quy định pháp luật về kiểm soát XĐLI trên 10 năm qua cũng đang cho thấy còn một số bất cập, tồn tại chủ yếu sau:
 
    Thứ nhất, chưa có quy định cụ thể, trực tiếp về những tình huống, hoàn cảnh có thể nảy sinh, tồn tại XĐLI ở cả hai dạng là XĐLI thực tế và tiềm ẩn, do vậy, hiệu quả phòng ngừa còn nhiều hạn chế. Luật PCTN năm 2018 mới dừng lại ở việc đưa ra khái niệm về XĐLI và một điều mang tính nguyên tắc về trách nhiệm của các chủ thể trong phát hiện, xử lý tình huống XĐLI. Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, với các quy định mang tính hướng dẫn cụ thể cách thức phát hiện XĐLI (bằng việc liệt kê các tình huống XĐLI); thông tin, báo cáo, giám sát việc thực hiện công vụ của người có chức vụ, quyền hạn trong tình huống có XĐLI.
 
    Bên cạnh Luật PCTN năm 2018 và Nghị định số 59/2019/NĐ-CP nêu trên, tình huống XĐLI còn được quy định ở một số văn bản chuyên ngành (Luật Cán bộ, công chức; Luật Viên chức; Luật Doanh nghiệp;...), tuy nhiên, chưa có sự thống nhất, đồng bộ, do đó, làm giảm hiệu quả điều chỉnh trên thực tế. 
 
    Thứ hai, còn thiếu quy định về chủ thể có thẩm quyền thực thi pháp luật về XĐLI trong hoạt động công vụ. Luật PCTN năm 2018 và một số văn bản pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức có các quy định về cơ quan có trách nhiệm thi hành quy định của pháp luật về PCTN, chế độ công vụ (trong đó bao gồm cả quy định về kiểm soát XĐLI), nhưng đây là những cơ quan có chức năng thực thi những quy định cụ thể trong từng lĩnh vực cụ thể. Trong khi đó, việc nhận diện, giám sát, theo dõi và xử lý XĐLI khi những tình huống này nảy sinh trong hoạt động công vụ trên thực tế sẽ không chỉ là những quy định về PCTN, xây dựng đạo đức công vụ mà bao gồm cả trách nhiệm bảo đảm tính liêm chính, khách quan và trách nhiệm giải trình trong thực thi công vụ. Hiện nay, những cơ quan có chức năng này được quy định phân tán, mỗi cơ quan, đơn vị thực hiện một chức năng khác nhau nhằm mục tiêu khác nhau trong hoạt động công vụ.
 
    Thứ ba, chưa dự liệu đầy đủ các trường hợp để kiểm soát XĐLI (nhất là trong hoạt động công vụ), như: Thiếu quy định về công khai hoạt động của người có chức vụ, quyền hạn; quy định về hạn chế lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức còn chưa đầy đủ; một số quy định về phát hiện, xử lý XĐLI còn bất cập. Đơn cử như: Chưa có quy định về công khai việc làm thêm, việc làm sau khi nghỉ hưu của cán bộ, công chức, viên chức, trong khi XĐLI thường thể hiện thông qua những hoạt động này; chưa có quy định hạn chế hoặc kiểm soát đối với các thành viên mở rộng của gia đình và những người thân thích khác như bạn bè của cán bộ, công chức, viên chức, người có chức vụ, quyền hạn;…
 
    Thứ tư, chưa có quy định rõ ràng về trách nhiệm của cơ quan nhà nước và xã hội trong việc phát hiện XĐLI. Chủ yếu việc xử lý XĐLI được lồng ghép vào việc thi hành các quy định về PCTN và được giao cho nhiều cơ quan, đơn vị thực hiện, hoàn toàn không có quy định nào chuyên sâu về vấn đề kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ. 
 
    Thứ năm, một số quy định pháp luật hiện hành về kiểm soát XĐLI trong hoạt động công vụ thiếu phù hợp, còn chung chung và thiếu tính khả thi, đơn cử như: Quy định về kiểm soát quà tặng còn chưa làm rõ trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc tiếp nhận và xử lý kịp thời báo cáo về quà tặng của người có chức vụ, quyền hạn; chưa có quy định rõ về chế tài xử lý vi phạm cho hành vi này; quy định về minh bạch tài sản tuy khá chi tiết nhưng hiện chưa làm rõ những lợi ích cá nhân tài chính là nguy cơ XĐLI của người có chức vụ, quyền hạn; quy định về công khai, minh bạch tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn còn chưa thật sự triệt để nhằm hạn chế hành vi vi phạm của người có chức vụ, quyền hạn;...
 
    2. Một số đề xuất hoàn thiện pháp luật về kiểm soát xung đột lợi ích để phòng, chống tham nhũng
 
    Thứ nhất, bổ sung tiêu chí nhận diện các tình huống XĐLI trong PCTN
 
    Theo đó cần phải xác định rõ:
 
    Một là, chủ thể quan hệ XĐLI: Quy định chủ thể của quan hệ XĐLI là cá nhân có mối quan hệ trực tiếp (hiện hoạt động công vụ do cán bộ, công chức, viên chức thực hiện là  do được giao theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định cho cán bộ, công chức, viên chức đó) hoặc gián tiếp (người thân thích của cán bộ, công chức, viên chức những người này có thể chi phối đến quá trình ra quyết định của cán bộ, công chức, viên chức trong hoạt động công vụ).
 
    Hai là, yếu tố XĐLI trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức: Tình huống mà cán bộ, công chức, viên chức vừa đại diện cho lợi ích của Nhà nước đồng thời bị chi phối, thôi thúc bởi lợi ích cá nhân của chính họ khi phải ra quyết định trong hoạt động công vụ (mà với quyết định đó sẽ tạo ra sự XĐLI công với lợi ích bản thân).
 
    Thứ hai, sửa đổi, bổ sung các quy định về cơ chế phòng ngừa XĐLI
 
    Một là, bổ sung các quy định về hạn chế hoặc các điều kiện hạn chế chặt chẽ các hành vi ngoài phạm vi công vụ liên quan đến lợi ích cá nhân của cán bộ, công chức, viên chức:
 
    - Quy định bổ sung danh mục lĩnh vực/loại hình tổ chức, doanh nghiệp sau khi cán bộ, công chức, viên chức đã nghỉ hưu, nghỉ làm việc trong khu vực công không được tham gia. Theo Nghị định số 59/2019/NĐ-CP, ngày 01/7/2019 của Chính phủ xác định lĩnh vực và thời gian cấm người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, giữ chức danh, chức vụ quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã sau khi thôi chức vụ (Điều 22, Điều 23). Tuy nhiên, có một thực tế là nguy cơ phát sinh XĐLI xảy ra đối với cán bộ, công chức, viên chức không chỉ (trực tiếp hay tiềm ẩn) gắn với khu vực doanh nghiệp mà ngay cả với các loại hình tổ chức phi chính phủ khác (đơn cử như các hiệp hội, hội đoàn,…) mà cán bộ, công chức, viên chức sẽ tham gia, thậm chí đảm nhiệm các vị trí lãnh đạo sau khi rời khu vực công. Cân nhắc bổ sung và quy định rõ giới hạn phạm vi tỷ lệ vốn góp và thời hạn được góp vốn đối với cán bộ, công chức, viên chức trong doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh thuộc lĩnh vực trước đây mà mình có trách nhiệm quản lý. Cần bổ sung quy định hạn chế cán bộ, công chức, viên chức tham gia vào một quá trình hoạt động có nguy cơ hiện hữu gây ra XĐLI (như: Tham gia biểu quyết chủ trương, dự án; tiếp cận nguồn thông tin; gặp gỡ, tiếp xúc, trao đổi nhân danh công vụ với đối tác, khách hàng,…).
 
    - Bổ sung các quy định về người thân: Theo quy định của pháp luật hiện hành, diện người thân được xác định bao gồm: Vợ hoặc chồng, bố, mẹ, con, anh, chị, em ruột (Điều 29, Nghị định 59/2019/NĐ-CP, ngày 01/7/2019 của Chính phủ).Với quy định như trên, thực tế đã cho thấy có sự bỏ sót diện của nhiều đối tượng là tiềm ẩn phát sinh rủi ro XĐLI trong hoạt động công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Quy định pháp luật hiện hành về diện đối tượng là người thân trong Nghị định số 59/2019/NĐ-CP của Chính phủ hẹp hơn quy định của Đảng có liên quan đến vấn đề này. Đơn cử, trong Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền có quy định: “4. Tự giác báo cáo với cấp ủy, tổ chức đảng, tập thể lãnh đạo quản lý khi có người thân (bố, mẹ, vợ, chồng, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh, chị, em ruột) là người có quyền, lợi ích liên quan đến việc thực hiện quy trình công tác cán bộ; Để người khác, nhất là vợ, chồng, bố, mẹ, con đẻ, con nuôi, con dâu, con rể, anh, chị, em ruột lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của mình để thao túng, can thiệp công tác cán bộ” (Điều 4). Vì vậy, đề nghị sửa đổi, bổ sung quy định về người thân trong kiểm soát XĐLI bảo đảm tính đồng bộ với quy định của Đảng.
 
    - Bổ sung các quy định về quà tặng: Cần hoàn thiện các quy định về tặng quà và nhận quà tặng theo hướng quy định nguyên tắc chung giảm thiểu rủi ro XĐLI trong khu vực công, không cho phép cán bộ, công chức, viên chức nhận quà tặng dưới mọi hình thức và mọi giá trị, đặc biệt những cán bộ, công chức, viên chức làm trong những ngành, lĩnh vực dễ xảy ra XĐLI như đấu thầu, cấp phép, tuyển dụng hoặc bổ nhiệm, hay những lĩnh vực đòi hỏi phải tương tác nhiều với người dân và doanh nghiệp như thuế, hải quan, thanh tra và kiểm tra. 
 
    Việc tặng, nhận quà có thể được xem xét trong một số trường hợp ngoại lệ như liên quan đến hoạt động đối ngoại, lễ tân dưới danh nghĩa cơ quan, tổ chức, đơn vị và quà tặng mang giá trị tinh thần, văn hóa. Ngoài ra, cần có quy định về kiểm soát quà tặng của cán bộ, công chức, viên chức, quy định rõ trình tự, thủ tục tiếp nhận và xử lý thông tin về quà tặng, tiếp nhận và xử lý quà tặng do cán bộ, công chức, viên chức nộp lại trong trường hợp không thể từ chối.
 
    Hai là, sửa đổi, bổ sung các quy định về phát hiện xung đột lợi ích
 
    Cần bổ sung các quy định pháp luật về công tác kiểm tra và tự kiểm tra của cơ quan, đơn vị; bổ sung các quy định cho phép phát hiện XĐLI trong hoạt động công vụ thông qua hoạt động thanh tra, kiểm toán và giám sát, cũng như thông qua hoạt động tiếp nhận, xử lý thông tin phản ánh, tố cáo về XĐLI. 
 
    Bổ sung quy định để cán bộ, công chức, viên chức tự mình chủ động phát hiện tình huống XĐLI của bản thân. Xác định bất cứ vấn đề gì liên quan đến lợi ích cá nhân của mình có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao đều là tình huống XĐLI. Để giúp cán bộ, công chức, viên chức xác định tình huống XĐLI, cơ quan nhà nước cần ban hành quy định, bộ câu hỏi hướng dẫn XĐLI để cán bộ, công chức, viên chức căn cứ vào đó tự mình phát hiện các tình huống XĐLI.
 
    Ba là, bổ sung, làm rõ quy định định giám sát việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức để kiểm soát XĐLI
 
    Người trực tiếp quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức căn cứ vào phạm vi, quy mô, tính chất và nội dung của nhiệm vụ, công vụ quyết định tự giám sát hoặc giao cho công chức thuộc quyền quản lý của mình thực hiện việc giám sát hoặc có thể tuyển dụng, sử dụng một bên thứ ba độc lập (những người không có XĐLI) để giám sát thực hiện công vụ, nhiệm vụ của người có XĐLI, đánh giá tính liêm chính của quá trình ra quyết định. Nội dung giám sát bao gồm: Việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao có XĐLI (tiến độ thực hiện, kết quả đạt được); khó khăn, vướng mắc phát sinh trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ; các nội dung khác có liên quan đến thực hiện nhiệm vụ, công vụ của cán bộ, công chức, viên chức có XĐLI. 
 
    Người được giám sát có trách nhiệm: Yêu cầu cán bộ, công chức, viên chức có nguy cơ XĐLI thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, giải trình và cung cấp thông tin tài liệu có liên quan đến nội dung giám sát; làm việc trực tiếp với cán bộ, công chức, viên chức có XĐLI khi thấy cần thiết; báo cáo trực tiếp hoặc bằng văn bản với người giao giám sát về khó khăn, vướng mắc, hoặc hành vi vi phạm pháp luật của người có XĐLI để có các biện pháp khắc phục, xử lý kịp thời; khi có căn cứ cho rằng việc giám sát không phù hợp với XĐLI hoặc khi XĐLI không còn.
 
    Bốn là, sửa đổi, bổ sung hình thức, thời hiệu thông tin, báo cáo xung đột lợi ích
 
    Theo quy định hiện hành, hình thức thông tin, báo cáo XĐLI phải bằng văn bản, và do đó, sẽ chỉ được công nhận tính hợp lệ của nguồn thông tin đó là bằng hình thức văn bản. Với việc quy định như trên vô hình chung đã hạn chế quyền của các tổ chức, cá nhân thực hiện quyền của mình trong trách nhiệm xây dựng chính quyền theo nguyên tắc công khai, minh bạch trong quản lý nhà nước. Sau nữa, với quy định này cũng đang tỏ ra sự thiếu đồng bộ so với các quy định pháp luật có liên quan. Đơn cử, theo quy định của Luật Tố cáo năm 2018: Hình thức tố cáo: Việc tố cáo được thực hiện bằng đơn hoặc được trình bày trực tiếp tại cơ quan, tổ chức có thẩm quyền (Điều 22). Cần bổ sung hình thức trực tiếp trong thông tin, báo cáo về XĐLI. Việc quy định thời gian thông tin, báo cáo XĐLI phải được thực hiện trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày biết được hoặc phát hiện như hiện nay cho thấy không phù hợp với yêu cầu giúp cơ quan nhà nước phòng ngừa, ngăn chặn và xử lý kịp thời các vi phạm pháp luật và khắc phục hậu quả (nếu có) để khôi phục, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan. 
 
    Ngay trong Luật PCTN 2018, Bộ luật tố tụng hình sự cũng không quy định về thời hiệu tố giác, tin báo tội phạm nhằm tạo điều kiện cho người dân tham gia tích cực vào đấu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật.
 
    Thứ ba, bổ sung, sửa đổi một số quy định về xử lý XĐLI bảo đảm sự phù hợp với các quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước
 
    Từ năm 2012 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành hơn 250 văn bản về xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị và PCTN, tiêu cực. Mặc dù chưa có một quy định chuyên biệt về kiểm soát XĐLI để PCTN, song cho thấy đã có sự thể hiện khá rõ và có tính hệ thống, nhất quán về quan điểm, thể hiện sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng đối với yêu cầu kiểm soát XĐLI để PCTN nói chung, xử lý XĐLI nói riêng. Đặc biệt, Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 06/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm đã thể hiện tính toàn diện, bao phủ các biểu hiện, hành vi tiêu cực (trong đó bao gồm các quy định xác định biểu hiện XĐLI) áp dụng đối với các tổ chức đảng và đảng viên đồng thời bao gồm cũng quy định và nguyên tắc, hình thức xử lý kỷ luật tương thích với các quy định về xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, viên chức trong các quy định pháp luật hiện hành.
 
    Việc nghiên cứu, sửa đổi các quy định pháp luật về xử lý XĐLI phải đảm bảo hoàn thiện thể chế nhằm bảo đảm yêu cầu trong xử lý tham nhũng, tiêu cực hiện nay đó là “Phải tiến hành đồng bộ giữa kỷ luật đảng, kỷ luật hành chính của Nhà nước, đoàn thể và xử lý hình sự”(3).
 
    Thứ tư, hoàn thiện quy định pháp luật về PCTN nói chung, kiểm soát XĐLI để PCTN trong khu vực tư nói riêng
 
    Việc kiểm soát XĐLI nhằm PCTN trong khu vực ngoài nhà nước được quy định tại Điều 23 Luật PCTN và Điều 54 Nghị định số 59/2019/NĐ-CP. Tuy nhiên, trong thực tiễn thanh tra và xử lý vi phạm về kiểm soát XĐLI để PCTN trong khu vực ngoài nhà nước cho thấy, các cơ quan, tổ chức thuộc diện phải xây dựng quy chế kiểm soát XĐLI đang gặp khó khăn, lúng túng trong việc xác định phạm vi XĐLI. Để bảo đảm sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật, cần nghiên cứu sửa đổi, bổ sung quy định về kiểm soát XĐLI trong Luật Doanh nghiệp, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Hợp tác xã, Luật Chứng khoán và các văn bản pháp luật về hội để bảo đảm kiểm soát được các tình huống mà trong đó lợi ích của người có chức vụ, quyền hạn trong các doanh nghiệp, tổ chức khu vực ngoài nhà nước hoặc người thân thích của họ tác động hoặc sẽ tác động không đúng đến việc thực hiện nhiệm vụ. 
 
    Thứ năm, ban hành quy định pháp luật để xác lập nguyên tắc, quy định mẫu về kiểm soát XĐLI
 
    Pháp luật PCTN hiện hành chỉ quy định thẩm quyền chung trong xây dựng thể chế về PCTN là: Ban hành theo thẩm quyền hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật về PCTN (Điều 84, 85 Luật PCTN năm 2018). Các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp có trách nhiệm xây dựng Bộ quy tắc ứng xử kiểm soát XĐLI bảo đảm “phù hợp với pháp luật và đặc thù nghề nghiệp nhằm bảo đảm liêm chính, trách nhiệm, đạo đức công vụ” (Điều 20 Luật PCTN năm 2018). Tuy nhiên, về phương diện lý thuyết cũng như thực tiễn cho thấy, để kiểm soát XĐLI hiệu quả, thì phải cần đến vai trò của Nhà nước xác lập một cơ sở pháp lý nhằm bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, từ sự nhận diện XĐLI cho đến các nguyên tắc chung về trách nhiệm, quyền hạn, hình thức, nội dung, phương thức ứng xử của các nhóm chủ thể có liên quan trong các tình huống XĐLI căn bản.
 
    Trên cơ sở đó, cần hướng tới việc thống nhất ban hành Bộ quy tắc ứng xử chung để kiểm soát XĐLI. Trên cơ sở Bộ quy tắc mẫu này, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp sẽ căn cứ vào đặc điểm của mình để ban hành các bộ quy tắc ứng xử cụ thể.
 
    (1) Nguồn: Báo cáo Tổng kết 10 năm công tác PCTN, TC giai đoạn 2012-2022, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới” (trình bày tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết 10 năm công tác PCTN, TC giai đoạn 2012-2022 tại Hà Nội, tháng 6/2022).
    (2) Mô hình 6Rs của OECD: REGISTER (Những quy định về những tình huống được xem là XĐLI); RESTRICT (Hạn chế, giới hạn sự tham gia của người có chức vụ, quyền hạn vào những tình huống bị xem là XĐLI); RECRUIT (Những quy định về thiết chế giám sát, đánh giá hành vi của người có chức vụ, quyền hạn khi tham gia những tình huống bị xem là XĐLI); REMOVE (Những quy định về cấm người có chức vụ, quyền hạn tham gia những tình huống bị xem là XĐLI nếu việc giám sát và đánh giá tính liêm chính của quá trình ra quyết định không khả thi); RELINQUISH (Những quy định bắt buộc người có chức vụ, quyền hạn phải từ bỏ những lợi ích cá nhân (ví dụ như quyền sở hữu cổ phần, tư cách thành viên của một tổ chức,… để bảo đảm không xảy ra XĐLI); RESIGN (Những quy định về việc từ chức của người có chức vụ,quyền hạn trong các tình huống XĐLI nhất định).
    (3) Phát biểu kết luận của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng tại Hội nghị Tổng kết 10 năm công tác PCTN, TC giai đoạn 2012-2022, nhiệm vụ, giải pháp trong thời gian tới” (trình bày tại Hội nghị toàn quốc Tổng kết 10 năm công tác PCTN, TC giai đoạn 2012-2022 tại Hà Nội, tháng 6/2022).
 
TS. Trương Hồng Hải (noichinh.vn)

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá

Click để đánh giá bài viết

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

Đại hội
Nghị quyết HĐND tỉnh
Covid-19
Biển đảo

Thống kê

  • Đang truy cập8
  • Hôm nay1,046
  • Tháng hiện tại19,537
  • Tổng lượt truy cập2,222,123
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây